Ban quản lý cảng cá Nghệ An: Kết quả bước đầu Ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử góp phần phòng, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (Khai thác IUU)

Thứ ba - 25/11/2025 14:32 23 0

Ban quản lý cảng cá Nghệ An: Kết quả bước đầu Ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử góp phần phòng, chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (Khai thác IUU)

1. Đặt vấn đề.
Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng đang nỗ lực thực hiện các cam kết Quốc tế về phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Trong đó, việc số hoá, ứng dụng công nghệ thông tin đã được triển khai và áp dụng trong công tác quản lý khai thác thủy sản như: Quản lý cơ sở dữ liệu nghề cá bằng phần mềm VN-Fishbase; Theo dõi, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tàu cá trên biển bằng thiết bị giám sát hành trình (VMS); Hệ thống ứng dụng truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử (CDT VN)Đã góp phần quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý khai thác thủy sản, chống khai thác IUU.
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, với 2.632 tàu cá các loại tham gia khai thác thuỷ sản, trong đó khối tàu có chiều dài từ 15m trở lên 1.043 tàu là một trong những tỉnh có số lượng tàu lớn, trọng điểm trong công tác quản lý nghề cá. Trước áp lực gỡ cảnh báo "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu (EC) về khai thác hải sản bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo (IUU), chuyển đổi số được xác định là một trong những giải pháp then chốt để quản lý đội tàu và minh bạch hóa nguồn gốc thủy sản góp phần gỡ cảnh báo "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu (EC). Trong đó, việc ứng dụng Nhật ký khai thác điện tử (E-logbook) thay thế cho nhật ký giấy truyền thống được xem là bước đi đột phá, tăng cường số hóa công tác quản lý tàu cá, giảm thiểu lỗi sai sót so với ghi chép thủ công, nâng cao tính minh bạch trong công tác giám sát, truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác.
Nhật ký khai thác thủy sản điện tử, được gọi là E-logbook (Electronic Logbook), là một hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa hoàn toàn việc ghi chép và báo cáo hoạt động khai thác, chuyển tải thủy sản trên biển. Hệ thống Nhật ký khai thác điện tử thay thế cho phương thức ghi chép nhật ký khai thác thủ công viết tay bằng giấy, số hóa quy trình báo cáo, giúp việc quản lý, giám sát và truy xuất nguồn gốc thủy sản đảm bảo tính minh bạch, kịp thời và chính xác của dữ liệu khai thác, hoàn thiện hồ sơ pháp lý, đáp ứng yêu cầu của Ủy ban Châu Âu (EC) để gỡ bỏ "Thẻ vàng" cho thủy sản Việt Nam.
Trước yêu cầu đó, Ban quản lý Cảng cá Nghệ An triển khai thực hiện việc: “Ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử để truy xuất nguồn gốc thuỷ sản từ khai thác trên phần mềm eCDT cho tàu cá từ 15m tại Ban quản lý Cảng cá Nghệ An”, với mục tiêu: Áp dụng thành công Nhật ký khai thác điện tử để truy xuất nguồn gốc thuỷ sản trên phần mềm eCDT cho tàu cá trên 15m tham gia khai thác, đánh bắt hải sản đảm bảo tính minh bạch, chính xác về nguồn gốc thuỷ sản khai thác; Xây dựng được quy trình ứng dụng Nhật ký khai thác thủy sản điện tử hỗ trợ truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác cho các tàu/thuyền tham gia khai thác thuỷ sản tại Nghệ An; Đào tạo 4 - 5 cán bộ quản lý, kỹ thuật của đơn vị và 15 - 20 ngư dân là chủ tàu/thuyền trưởng tham gia thực hiện nhiệm vụ làm chủ được quy trình thực hiện phần mềm ghi Nhật ký điện tử thuỷ sản khai thác; Đánh giá được hiệu quả, tính khả thi, khả năng ứng dụng, nhân rộng của Nhật ký khai thác điện tử trong công tác quản lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản trên cơ sở đó tham mưu cho nghành cho tỉnh ban hành chủ trương, chính sách thực hiện đồng bộ cho tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An nhằm góp phần số hoá trong công tác quản lý khai thác thủy sản, chống khai thác IUU.
2. Kết quả thực hiện.
Nhiệm vụ, được triển khai trên 12 tàu cá tham gia khai thác thuỷ sản có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên đối với các chủ tàu tại Xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An từ tháng 4 năm 2025. Đến nay, qua quá trình thực hiện bước đầu đã thu được những kết quả tích cực về kết quả thực hiện; đánh giá được hiệu quả kinh tế, xã hội, tính khả thi và khả năng ứng dụng của hệ thống Nhật ký khai thác điện tử cho tàu cá từ 15m trở lên trên địa bàn tỉnh Nghệ An cụ thể:
- Đã lựa chọn được hệ thống Nhật ký khai thác điện tử - SOBA do Công ty TNHH Hiệp Lực Phát Triển Việt nghiên cứu, sản xuất, cung cấp cho tàu cá ở Việt Nam, đạt được chứng nhận ISO 9001:2015 theo Giấy chứng nhận số HT: 3043 cấp ngày 22/01/2024 để thực hiện.
- Đào tạo được 5 cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý Cảng cá Nghệ An nắm vững về quy trình lắp đặt, bảo trì, kích hoạt, vận hành, quản lý, sử dụng và tập huấn, hướng dẫn được cho 20 chủ tàu/thuyền trưởng nắm bắt được quy trình vận hành, quản lý, sử dụng phần mềm Nhật ký khai thác điện tử.
 
Hình 1: Lắp đặt, kích hoạt hệ thống Nhật ký khai thác điện từ cho tàu cá

Kết quả thử nghiệm, thu thập số liệu:
- Tổng số tàu tham gia thực hiện nhiệm vụ      : 12 tàu.
- Tổng số chuyển biển thực hiện của các tàu    : 12 chuyến.
- Số nhật ký được kiểm soát và lưu trữ            : 104 bộ. Trong đó:
+ Nhật ký đạt yêu cầu                                      : 95 bộ, chiếm 91,3%.
+ Nhật ký không đạt yêu cầu                           : 09 bộ, chiếm 8,7%.
Từ kết quả thực hiện trên cho thấy:
2.1. Về ưu điểm.
- Các chủ tàu/thuyền trưởng cơ bản tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định trong việc sử dụng NKĐT. Cơ bản đã biết sử dụng trên điện thoại để thao tác phần mềm, triển khai ghi Nhật ký khai thác điện tử.
- Số lượng Nhật ký khai thác điện tử được kiểm soát, lưu trữ đạt tiêu chuẩn theo quy định đạt tỷ lệ cao 95 bộ, chiếm 91,3% tổng số Nhật ký được lưu trữ trong quá trình thử nghiệm cho thấy hệ thống Nhật ký khai thác điện tử (SOBA) được đơn vị lựa chọn đưa vào thử nghiệm có tính ứng dụng cao, tiện lợi, dễ dàng thao tác, sử dụng, phù hợp với khả năng sử dụng của ngư dân và cho các tàu cá tại tỉnh Nghệ An.
- Thông qua việc sử dụng Nhật ký khai thác điện tử bước đầu cho thấy có nhiều tính năng, tiện dụng trong việc sử dụng như:
+ Nhật ký khai thác điện tử sau khi tàu về cập cảng có thể in ngay ra để lưu hồ sơ hoặc lưu trữ trên hệ thống máy tính để kiểm soát đảm bảo theo quy định.
+ Số lượng mẻ lưới ghi trong Nhật ký khai thác điện tử cao hơn so với Nhật ký giấy truyền thống nhờ tính tiện dụng và dễ ghi nhận trên thiết bị di động.
+ Thời gian lập hồ sơ tàu cá sau khi cập cảng giảm đáng kể do dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực và dễ dàng truy xuất khi cần thiết.
2.1. Tồn tại.
- Số lượng chuyến biển được thực hiện và số lượng Nhật ký được kiểm soát, lưu trữ còn thấp so với số lượng tàu tham gia, số chuyển đi biển thực tế. Nguyên nhân: Một số tàu cá sau khi lắp đặt hệ thống Nhật ký khai thác điện tử do nhiều lý do khác nhau và ảnh hưởng của mưa bão, gió mùa nên không đi khai thác dẫn đến số chuyển biển thực hiện còn ít so với số lượng tàu và thời gian thực hiện nhiệm vụ; Giai đoạn đầu, từ chuyến biến số 1 đến số 4 nhiều chủ tàu/thuyền trưởng đã được tập huấn, hướng dẫn nhưng chưa nhuần nhuyễn trong các thao tác thực hiện việc ghi Nhật ký khai thác điện tử điện tử nên chưa thực hiện ghi Nhật ký theo quy định. Trong quá trình thực hiện có nhiều tàu, có nhiều chuyến không đi khai thác nên không thực hiện việc ghi Nhật ký khai thác điện tử.
- Vẫn còn 09 bộ (chiếm 8,7%) NKKT điện tử không đạt yêu cầu theo quy định trong tổng số Nhật ký được kiểm soát, lưu trữ. Nguyên nhân: Trong các chuyến biển thứ 1 - 4 do chủ tàu/thuyền trưởng gặp khó khăn trong thao tác trên ứng dụng, chưa chấp hành tốt việc sử dụng Nhật ký khai thác điện tử nên để xảy ra thiếu hoặc sai lệch thông tin dẫn đến có thực hiện ghi Nhật ký khai thác điện tử nhưng không đảm bảo theo yêu cầu; Thời gian đầu, hệ thống phần mềm Nhật ký điện tử một số tính năng chưa phù hợp hoặc còn thiếu nên việc ghi Nhật ký khai thác điện tử của các tàu chưa đảm bảo theo yêu cầu.
Từ các tồn tại trên, trong quá trình thực hiện, đơn vị đã trao đổi với bên cung ứng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử khắc phục kịp thời các lỗi, những bất cập thông qua việc thực hiện thực tế, đồng thời cập nhật, thay đổi, bổ sung nhiều tính năng, biểu mẫu theo quy định tại các Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng như các chức năng khác trên trang quản trị hệ thống Nhật ký khai thác điện tử để hoàn thiện phần mềm, phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, thường xuyên hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp, nhắc nhở, xử lý các sự cố trên phần mềm cho ngư dân nên số lượng Nhật ký không đạt yêu cầu giảm dần qua các chuyển biển. Từ chuyến biển thứ 5 cơ bản các tàu đã thực hiện tốt việc ghi Nhật ký khai thác điện tử, cơ bản đạt yêu cầu theo quy định.
3. Đánh giá hiệu quả thực hiện.
3.1. Lợi ích kinh tế.
Sử dụng Nhật ký khai thác điện tử trong khai thác thuỷ sản mang lại nhiều lợi ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp thông qua việc tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu rủi ro:
- Tăng giá trị sản phẩm: Sản phẩm thủy sản có hồ sơ Nhật ký khai thác đầy đủ và được xác nhận nguồn gốc hợp pháp sẽ được các doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn (thường từ 5 - 10%) so với sản phẩm không rõ nguồn gốc.
- Giảm rủi ro bị trả lại sản phẩm: Giúp ngư dân không bị trả lại sản phẩm vì hồ sơ tàu cá không rõ ràng, cũng như hạn chế nguy cơ bị cơ quan chức năng xử phạt vì các lỗi vi phạm.
- Tối ưu hoá cho công tác quản lý: Giảm chi phí, thời gian in ấn, truy xuất và lưu trữ hồ sơ giấy.
- Tăng hiệu quả cho hoạt động khai thác: Dữ liệu về ngư trường, sản lượng được tổng hợp định kỳ giúp thuyền trưởng biết và lên kế hoạch chuyến biển hiệu quả hơn, giảm chi phí trong mỗi chuyến biển.
3.2. Hiệu quả xã hội:
- Hiệu quả xã hội của sử dụng Nhật ký khai thác điện tử gắn liền với việc xây dựng một ngành thủy sản có trách nhiệm và bền vững. Cụ thể:
+ Minh bạch hóa hoạt động khai thác thuỷ sản: Dữ liệu khai thác được ghi lại trực tiếp theo thời gian thực/vị trí, hỗ trợ xác minh các sự vụ có hay không có vi phạm của tàu cá trong hoạt động khai thác như: sai vùng sai tuyến.
+ Truy xuất nguồn gốc rõ ràng: Nhờ quá trình “số hóa” từ khi xuất cảng đến khi cập cảng theo từng chuyến biển nên dễ dàng truy xuất được dữ liệu cho từng lô hàng thủy sản. Khi sản phẩm được đưa vào chế biến và xuất khẩu, thông tin từ Nhật ký khai thác điện tử là bằng chứng hợp pháp duy nhất để chứng minh nguồn gốc hợp pháp, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như Liên minh Châu Âu (EU).
+ Tăng tính minh bạch của nhật ký khai thác do việc nhập dữ liệu điện tử và kết hợp với hệ thống giám sát tàu cá VMS làm tăng sự trung thực trong các cá mẻ lưới hay từng chuyến biển so với nhật ký giấy.
- Nhật ký khai thác điện tử còn mang lại sự tiện lợi, hiệu quả cao cho các chủ tàu/thuyền trưởng trên mỗi chuyến biển:
+ Nhanh chóng và tiện lợi: Giảm thời gian ghi chép thủ công.
+ Xác minh sự trung thực của sản phẩm thủy sản: Đảm bảo sản phẩm có đầy đủ giấy tờ, dễ dàng xuất khẩu và có thể bán với giá cao hơn.
+ Rút ngắn thủ tục tại cảng: Việc xác nhận sản lượng và nguồn gốc tại cảng cá diễn ra nhanh hơn nhờ dữ liệu đã được số hóa và kiểm tra sơ bộ từ trước.
- Thông qua kết quả thực hiện, đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác, số hóa quy trình nghiệp vụ quản lý thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
 
Hình 2: Lãnh đạo Sở Nông nghiệp &MT; Chi cục Thuỷ sản và Kiểm ngư
kiểm tra, trích xuất Nhật ký khai thác điện tử trên hệ thống phấn mềm

4. Kết luận, kiến nghị:
4.1. Kết luận.
- Thông qua việc thử nghiệm, sử dụng NKKT điện tử bước đầu cho thấy có nhiều tính năng ưu việt, tiện dụng trong việc sử dụng như: Chủ tàu/thuyển trưởng dễ dàng trong việc nhập dữ liệu của chuyến biển thông qua nhật ký, biểu mẫu và các tính năng được tích hợp trong phần mềm NKKT điện tử; việc kiểm tra, kiểm soát, lưu trữ hồ sơ được số hoá, thực hiện trên máy tính đảm bảo theo qui định; thông tin khai thác trên nhật ký đầy đủ, chính xác, số mẻ lưới cao hơn so với nhật ký giấy truyền thống; thời gian lập hồ sơ tàu cá sau khi cập cảng được rút ngắn, giảm thời gian tàu lưu tại cảng để hoàn thiện hồ sơ, dễ dàng truy xuất dữ liệu khi cần thiết.
- Việc ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử có tính khả thi cao, tiện dụng, có nhiều điểm ưu việt hơn hẳn so với việc sử dụng Nhật ký truyền thống viết tay hiện đang áp dụng, mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý, giám sát tàu cá, giám sát sản lượng, truy xuất nguồn gốc thuỷ sản khai thác cho các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời rất thuận tiện, chính xác cho người dân thực hiện ghi Nhật ký khai thác khi tham gia khai thác, đánh bắt, chuyển tải thuỷ sản trên biển; đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính ưu việt để đưa vào áp dụng, sử dụng đại trà cho tàu cá tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Hệ thống phần mềm Nhật ký khai thác điện tử rất tiện ích trong công tác thống kế, quản lý tàu cá cũng như sản lượng qua cảng, truy xuất nguồn gốc thuỷ sản khai thác, tiết kiệm thời gian công sức quản lý của các Cảng, tiến đến số hóa toàn phần các Cảng cá tại Nghệ An.
- Ban quản lý Cảng cá Nghệ An đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác, số hóa quy trình nghiệp vụ quản lý thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Thành công của việc thử nghiệm hệ thống Nhật ký khai thác điện tử tại Ban quản lý Cảng cá Nghệ Ancơ sở để tham mưu cho ngành, tỉnh Nghệ An ban hành các chủ trương, chính sách, giải pháp để nhận rộng, triển khai ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử cho các tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần số hoá, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý khai thác thủy sản, thực hiện các cam kết Quốc tế về phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU).
4.2. Kiến nghị.
Đề Nghị Sở Nông nghiệp & Môi trường Nghệ An tham mưu, đề xuất UBND tỉnh ban hành các chủ trương, chính sách để triển khai áp dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử với tất cả các tàu cá tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên biển; hỗ trợ kinh phí mua thiết bị, cước phí vận hành hệ thống Nhật ký khai thác điện tử cho ngư dân có tàu cá, tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên biển.
Trên đây là một số kết quả bước đầu của việc ứng dụng hệ thống Nhật ký khai thác điện tử để truy xuất nguồn gốc thuỷ sản cho tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m  trở lên tại Ban quản lý Cảng cá Nghệ An nhằm tiến tới thực hiện đồng bộ cho các tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần số hoá, thực hiện có hiệu quả trong công tác phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU); hoàn thiện hồ sơ pháp lý, đáp ứng yêu cầu của Ủy ban Châu Âu (EC) để gỡ bỏ "Thẻ vàng" cho thủy sản Việt Nam trong thời gian tới./.

                                                                              Người viết bài: Phan Tiến Chương

                                                                                  Ban quản lý cảng cá Nghệ An
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây