Kết quả thử nghiệm áp dụng Nhật ký khai thác (NKKT) điện tử truy xuất nguồn gốc thuỷ sản trên phần mềm eCDT tại Cảng cá Lạch Quèn

Chủ nhật - 04/01/2026 19:38 130 0
Thực hiện Quyết định số 03/QĐ-SNNMT.KHTC ngày 07/3/2025 của Sở Nông nghiệp & Môi trường về việc phê duyệt dự toán chi NSNN thực hiện nhiệm vụ: “Thử nghiệm áp dụng Nhật ký khai thác điện tử truy xuất nguồn gốc thuỷ sản trên phần mềm eCDT tại Cảng cá Lạch Quèn cho tàu cá trên 15m”. Ban quản lý Cảng cá Nghệ An báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ như sau:
I - Kết quả thực hiện đạt được.
1. Xây dựng thuyết minh, dự toán, cán bộ thực hiện.
- Đơn vị đã chủ động xây dựng thuyết minh, dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ trình Sở Nông nghiêp và Môi trường phê duyệt để triển khai thực hiện.  
- Thành lập nhóm, giao nhiệm vụ cho các cán bộ thực hiện nhiệm vụ gồm 04 người có năng lực chuyên môn, công nghệ thông tin tốt trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ.
2. Kết quả lựa chọn tàu tham gia thực hiện nhiệm vụ.
Để lựa chọn được các tàu cá tham gia thực hiện nhiệm vụ đảm bảo nội dung, mục tiêu đề ra, nhóm thực hiện đã xây dựng các tiêu chí lựa chọn cụ thể như sau:
- Tàu cá phải có chiều dài từ 15m trở lên đang tham gia khai thác thuỷ sản trên biển, thường xuyên rời, cập cảng tại Cảng cá Lạch Quèn.
- Đầy đủ hồ sơ đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các hồ sơ giấy tờ khác đảm bảo theo quy định, chấp hành nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định.
- Các chủ tàu phải có điện thoại thông minh, ưu tiên các chủ tàu/thuyền trưởng am hiểu về công nghệ thông tin.
3. Kết quả lựa chọn đơn vị cung cấp, lắp đặt, tập huấn, hướng dẫn sử dụng Hệ thống Nhật ký khai thác điện tử.
Ngay sau khi Quyết định thực hiện nhiệm vụ được phê duyệt, đơn vị đã tiến hành thành lập đoàn khảo sát, tìm hiểu về đơn vị cung ứng, hệ thống NKKT điện tử gồm lãnh đạo đơn vị, các thành viên nhóm thực hiện, đi khảo sát, nắm bắt trực tiếp tại đơn vị cung ứng và tại các Cảng cá đã ứng dụng, triển khai NKKT điện tử để nắm bắt, tìm hiểu thực tế qua đó lựa chọn đơn vị cung ứng. Phối hợp với đơn vị cung ứng, các chủ tàu triển khai lắp đặt hệ thống NKKT điện tử cho các tàu cá đã được lựa chọn để triển khai thực hiện nhiệm vụ. 
- Qua khảo sát, tìm hiểu đơn vị đã lựa chọn Công ty TNHH Hiệp Lực Phát Triển Việt (SDViCo, địa chỉ: Số 283, Nguyễn Hữu Cảnh, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (Nay là phường Rạch Dừa, TP. Hồ Chí Minh) là đơn vị cung ứng phần mền Hệ thống Nhật ký khai thác điện tử để thực hiện nhiệm vụ. Công ty TNHH Hiệp Lực Phát Triển Việt là đơn vị chuyên nghiên cứu, sản xuất và cung cấp các thiết bị và dịch vụ cho tàu cá ở Việt Nam, đã đạt được chứng nhận ISO 9001:2015 (Giấy chứng nhận số HT 3043 cấp ngày 22/01/2024) về nghiên cứu phát triển, sản xuất và kinh doanh thiết bị viễn thông, thiết bị điện tử phục vụ ngành viễn thông. Phần mềm Nhật ký khai thác điện tử của Công ty đã được triển khai lắp đặt cho các tàu cá tại một số tỉnh như Vũng Tàu, Bình Định, Thanh Hóa…
- Đơn vị cung ứng đã cử cán bộ kỹ thuật ra tại Cảng cá Lạch Quèn cùng với cán bộ Ban quản lý Cảng cá, chủ tàu triển khai lắp đặt hệ thống NKKT điện tử cho các tàu cá tham gia thực hiện nhiệm vụ.  
- Ngay sau khi lắp đặt, đơn vị đã mời các chủ tàu, thuyền trưởng các tàu cá, cán bộ Ban quản lý cảng cá trong nhóm thực hiện để cán bộ kỹ thuật bên cung cấp phần mềm Hệ thống NKKT điện tử tập huấn, hướng dẫn quy trình vận hành, quản lý, sử dụng phần mềm NKKT điện tử. Qua đó, đã đào tạo được 5 cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý Cảng cá Nghệ An nắm vững về quy trình lắp đặt, bảo trì, kích hoạt, vận hành, quản lý, sử dụng và tập huấn, hướng dẫn được cho 20 chủ tàu/thuyền trưởng nắm bắt được quy trình vận hành, quản lý, sử dụng phần mềm NKKT điện tử.
Đồng thời, Ban quản lý Cảng cá đã lập nhóm Zalo kết nối với các chủ tàu, thuyền trưởng để tương tác, trao đổi thông tin, hỗ trợ xử lý các lỗi kỹ thuật trong quá trình triển khai thực hiện.
 
Hình 1: Lắp đặt, kích hoạt Hệ thống NKKT điện tử cho tàu cá

4. Kết quả kiểm soát, trích xuất, lưu trữ Nhật ký khai thác điện tử.
Trong thời gian thực hiện từ 15/4/2025 đến nay kết quả thu được như sau:
- Tổng số tàu tham gia thực hiện nhiệm vụ      : 12 tàu.
- Tổng số chuyển biển thực hiện của các tàu    : 15 chuyến.
- Số nhật ký được kiểm soát và lưu trữ            : 124 bộ. Trong đó:
+ Nhật ký đạt yêu cầu                                      : 115 bộ, chiếm 92,74%.
+ Nhật ký không đạt yêu cầu                           : 09 bộ, chiếm 7,26%.
a. Về ưu điểm.
- Các chủ tàu/thuyền trưởng cơ bản tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm, tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định trong việc sử dụng NKKT điện tử, biết sử dụng trên điện thoại để thao tác phần mềm, triển khai ghi NKKT điện tử.
- Số lượng Nhật ký khai thác điện tử được kiểm soát, lưu trữ đạt tiêu chuẩn theo quy định đạt tỷ lệ cao 115 bộ, chiếm 92,74% tổng số Nhật ký được lưu trữ trong quá trình thử nghiệm cho thấy hệ thống NKKT điện tử (SOBA) được đơn vị lựa chọn đưa vào thử nghiệm có tính ứng dụng cao, tiện lợi, dễ dàng thao tác sử dụng, phù hợp với khả năng sử dụng của ngư dân và cho các tàu cá tại Nghệ An.
- Thông qua việc sử dụng NKKT điện tử bước đầu cho thấy có nhiều tính năng, tiện dụng trong việc sử dụng như:
+ Nhật ký khai thác điện tử sau khi tàu về cập cảng có thể in ngay ra để lưu hồ sơ hoặc lưu trữ trên hệ thống máy tính để kiểm soát đảm bảo theo quy định.
+ Số lượng mẻ lưới ghi trong NKKT điện tử cao hơn so với Nhật ký giấy truyền thống nhờ tính tiện dụng và dễ ghi nhận trên thiết bị di động.
+ Thời gian lập hồ sơ tàu cá sau khi cập cảng giảm đáng kể do dữ liệu được cập nhật theo thời gian thực và dễ dàng truy xuất khi cần thiết.
+ Ngư dân thao tác dễ dàng, tiện lợi, giảm thời gian ghi chép thủ công cho các chủ tàu/thuyền trưởng trên mỗi chuyến biển.
b. Tồn tại.
- Số lượng chuyến biển được thực hiện và số lượng Nhật ký được kiểm soát, lưu trữ còn thấp so với số lượng tàu tham gia, số chuyển đi biển theo trăng hàng tháng. Nguyên nhân: Một số tàu cá sau khi lắp đặt hệ thống NKKT điện tử do nhiều lý do khác nhau và ảnh hưởng của mưa bão, gió mùa nên không đi khai thác dẫn đến số chuyển biển thực hiện còn ít so với số lượng tàu và thời gian thực hiện nhiệm vụ; Giai đoạn đầu, từ chuyến biến số 1 đến số 4 nhiều chủ tàu/thuyền trưởng đã được tập huấn, hướng dẫn nhưng chưa nhuần nhuyễn trong các thao tác thực hiện việc ghi NKKT điện tử nên chưa thực hiện ghi Nhật ký khai thác theo quy định. Trong quá trình thực hiện có nhiều tàu, nhiều chuyến không đi khai thác nên không thực hiện việc ghi NKKT điện tử.
- Có 09 bộ (chiếm 7,267%) NKKT điện tử không đạt yêu cầu theo quy định trong tổng số Nhật ký được kiểm soát, lưu trữ. Nguyên nhân: Trong các chuyến biển thứ 1 - 4 do chủ tàu/thuyền trưởng gặp khó khăn trong thao tác trên ứng dụng, chưa chấp hành tốt việc sử dụng NKKT điện tử nên để xảy ra thiếu hoặc sai lệch thông tin dẫn đến có thực hiện ghi NKKT điện tử nhưng không đảm bảo theo yêu cầu; Thời gian đầu, hệ thống phần mềm NKKT điện tử một số tính năng chưa phù hợp hoặc còn thiếu nên việc ghi NKKT điện tử của các tàu chưa đảm bảo theo yêu cầu.
Từ các tồn tại trên, trong quá trình thực hiện, đơn vị đã trao đổi với bên cung ứng hệ thống NKKT điện tử khắc phục kịp thời các lỗi, những bất cập thông qua việc thực hiện thực tế, đồng thời cập nhật, thay đổi, bổ sung nhiều tính năng, biểu mẫu theo quy định tại các Thông tư của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cũng như các chức năng khác trên trang quản trị Hệ thống Nhật ký khai thác điện tử để hoàn thiện phần mềm, phù hợp với tình hình thực tế. Đồng thời, thường xuyên hỗ trợ, hướng dẫn trực tiếp, nhắc nhở, xử lý các sự cố trên phần mềm cho ngư dân nên số lượng Nhật ký không đạt yêu cầu giảm dần qua các chuyển biển. Từ chuyến biển thứ 5 cơ bản các tàu đã thực hiện tốt việc ghi NKKT điện tử, đạt yêu cầu theo quy định.
5. Đánh giá hiệu quả thực hiện.
a. Lợi ích kinh tế.
Sử dụng Nhật ký khai thác điện tử trong khai thác thuỷ sản mang lại nhiều lợi ích kinh tế trực tiếp và gián tiếp thông qua việc tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu rủi ro:
- Tăng giá trị sản phẩm: Sản phẩm thủy sản có hồ sơ Nhật ký khai thác đầy đủ và được xác nhận nguồn gốc hợp pháp sẽ được các doanh nghiệp thu mua với giá cao hơn (thường từ 5 - 10%) so với sản phẩm không rõ nguồn gốc.
- Giảm rủi ro bị trả lại sản phẩm: Giúp ngư dân không bị trả lại sản phẩm vì hồ sơ tàu cá không rõ ràng, cũng như hạn chế nguy cơ bị cơ quan chức năng xử phạt vì các lỗi vi phạm.
- Tối ưu hoá cho công tác quản lý: Giảm chi phí, thời gian in ấn, truy xuất và lưu trữ hồ sơ giấy.
- Tăng hiệu quả cho hoạt động khai thác: Dữ liệu về ngư trường, sản lượng được tổng hợp định kỳ giúp thuyền trưởng biết và lên kế hoạch chuyến biển hiệu quả hơn, giảm chi phí trong mỗi chuyến biển.
b. Hiệu quả xã hội:
- Hiệu quả xã hội của sử dụng Nhật ký khai thác điện tử gắn liền với việc xây dựng một ngành thủy sản có trách nhiệm và bền vững. Cụ thể:
+ Minh bạch hóa hoạt động khai thác thuỷ sản: Dữ liệu khai thác được ghi lại trực tiếp theo thời gian thực/vị trí, hỗ trợ xác minh các sự vụ có hay không có vi phạm của tàu cá trong hoạt động khai thác như sai vùng, sai tuyến.
+ Truy xuất nguồn gốc rõ ràng: Nhờ quá trình “số hóa” từ khi xuất cảng đến khi cập cảng theo từng chuyến biển nên dễ dàng truy xuất được dữ liệu cho từng lô hàng thủy sản. Khi sản phẩm được đưa vào chế biến và xuất khẩu, thông tin từ NKKT điện tử là bằng chứng hợp pháp duy nhất để chứng minh nguồn gốc hợp pháp, đáp ứng yêu cầu của các thị trường khó tính như Liên minh Châu Âu (EU).
+ Tăng tính minh bạch của nhật ký khai thác do việc nhập dữ liệu điện tử và kết hợp với hệ thống giám sát tàu cá VMS làm tăng sự trung thực trong các cá mẻ lưới hay từng chuyến biển so với nhật ký giấy.
- Nhật ký khai thác điện tử còn mang lại sự tiện lợi, hiệu quả cao cho các chủ tàu/thuyền trưởng trên mỗi chuyến biển:
+ Nhanh chóng và tiện lợi: Giảm thời gian ghi chép thủ công.
+ Xác minh sự trung thực của sản phẩm thủy sản: Đảm bảo sản phẩm có đầy đủ giấy tờ, dễ dàng xuất khẩu và có thể bán với giá cao hơn.
+ Rút ngắn thủ tục tại cảng: Việc xác nhận sản lượng và nguồn gốc tại cảng cá diễn ra nhanh hơn nhờ dữ liệu đã được số hóa và kiểm tra sơ bộ từ trước.
- Thông qua kết quả thực hiện, đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật ứng dụng hệ thống NKKT điện tử phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác, số hóa quy trình nghiệp vụ quản lý thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
 

 
Hình 2: Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & Môi trường; Chi cục Thuỷ sản & Kiểm ngư kiểm tra, trích xuất
NKKT điện tử trên hệ thống phần mềm

6. Kết luận, kiến nghị.
a. Kết luận.
- Đơn vị đã triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiêm túc, đảm bảo nội dung, mục tiêu và tiến độ đề ra. Thường xuyên bám sát, hỗ trợ các tàu cá trong việc sử dụng NKKT điện tử qua từng chuyến biển, phối hợp với đơn vị cung ứng phần mềm xử lý, hiệu chỉnh các nội dung phát sinh, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện.
- Đơn vị cung cấp phần mềm Hệ thống NKKT điện tử đã phối hợp tốt với đơn vị khắc phục kịp thời các lỗi, những bất cập trong quá trình thực hiện, đồng thời cập nhật, thay đổi, bổ sung nhiều tính năng, biểu mẫu theo quy định, các chức năng khác trên trang quản trị Hệ thống NKKT điện tử để hoàn thiện phần mềm, phù hợp với tình hình thực tế tại Nghệ An.
- Các tàu cá tham gia nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định trong việc sử dụng NKKT điện tử và các yêu cầu khác của đơn vị nhằm đảm bảo nhiệm vụ được thực hiện đầy đủ, phản ánh rõ kết quả, khả năng ứng dụng và tính khả thi.
- Thông qua việc thử nghiệm, sử dụng NKKT điện tử bước đầu cho thấy có nhiều tính năng ưu việt, tiện dụng trong việc sử dụng như: Chủ tàu/thuyền trưởng dễ dàng trong việc nhập dữ liệu của chuyến biển thông qua nhật ký, biểu mẫu và các tính năng được tích hợp trong phần mềm NKKT điện tử; việc kiểm tra, kiểm soát, lưu trữ hồ sơ được số hoá, thực hiện trên máy tính đảm bảo theo qui định; thông tin khai thác trên nhật ký đầy đủ, chính xác, số mẻ lưới cao hơn so với nhật ký giấy truyền thống; thời gian lập hồ sơ tàu cá sau khi cập cảng được rút ngắn, giảm thời gian tàu lưu tại cảng để hoàn thiện hồ sơ, dễ dàng truy xuất dữ liệu khi cần thiết.
- Việc ứng dụng Hệ thống NKKT điện tử có tính khả thi cao, tiện dụng, có nhiều điểm ưu việt hơn hẳn so với việc sử dụng Nhật ký giấy truyền thống viết tay hiện đang áp dụng, mang lại hiệu quả cao cho công tác quản lý, giám sát tàu cá, giám sát sản lượng, truy xuất nguồn gốc thuỷ sản khai thác cho các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời rất thuận tiện, chính xác cho người dân thực hiện ghi Nhật ký khai thác khi tham gia khai thác, đánh bắt, chuyển tải thuỷ sản trên biển; đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính ưu việt để đưa vào áp dụng, sử dụng đại trà cho tàu cá tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Hệ thống phần mềm NKKT điện tử mang lại tiện ích trong công tác thống kê, quản lý tàu cá, giám sát sản lượng qua cảng, truy xuất nguồn gốc thuỷ sản khai thác, tiết kiệm thời gian công sức quản lý của các Cảng, tiến đến số hóa toàn phần các Cảng cá tại Nghệ An.
- Ban quản lý Cảng cá Nghệ An đã xây dựng, hoàn thiện được quy trình kỹ thuật ứng dụng Hệ thống NKKT điện tử phục vụ truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản từ khai thác, số hóa quy trình nghiệp vụ quản lý thủy sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Thành công của việc thử nghiệm hệ thống NKKT điện tử tại Ban quản lý Cảng cá Nghệ Ancơ sở để tham mưu cho ngành, tỉnh Nghệ An ban hành các chủ trương, chính sách, giải pháp để nhận rộng, triển khai ứng dụng Hệ thống NKKT điện tử cho các tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần số hoá, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý khai thác thủy sản, thực hiện các cam kết Quốc tế về phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU).
b. Kiến nghị.
Đề Nghị Sở Nông nghiệp & Môi trường tham mưu, đề xuất UBND tỉnh ban hành các chủ trương, chính sách để triển khai áp dụng Hệ thống NKKT điện tử với tất cả các tàu cá tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên biển; hỗ trợ kinh phí mua thiết bị, cước phí vận hành Hệ thống NKKT điện tử cho ngư dân có tàu cá, tham gia khai thác, chuyển tải thuỷ sản trên biển.
 Nhật ký khai thác điện tử truy xuất nguồn gốc thuỷ sản trên phần mềm eCDT tại cảng cá Lạch Quèn cho tàu cá trên 15m của Ban quản lý Cảng cá Nghệ An nhằm tiến tới thực hiện đồng bộ cho các tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15m trở lên trên địa bàn tỉnh Nghệ An góp phần số hoá, thực hiện có hiệu quả trong công tác phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU).

                                                                                                      Nguồn tin: Trương Văn Toản

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập49
  • Hôm nay7,413
  • Tháng hiện tại139,717
  • Tổng lượt truy cập4,547,158
Tin nóng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây